Ngày 12/12/2019, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và Cục Cảnh sát môi trường đã cùng ký ban hành Quy chế số 01/QCPH-TCBHĐVN-CSMT về việc phối hợp trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trưởng biển, hải đảo. Quy chế gồm 03 chương, 15 điều.
Theo đó, nguyên tắc phối hợp được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Chương IX của Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và Thông tư liên tịch số 02/2009/TTLT-BCA-BTNMT ngày 06/2/2019 của Bộ Công an và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn quan hệ phối hợp công tác phòng, chống tội phạm về bảo vệ môi trường. Bảo đảm sự thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau thực hiện nhiệm vụ được giao nhưng không làm ảnh hưởng đến hoạt động, kế hoạch công tác, công việc nội bộ của hai bên.
Một số nội dung, hình thức phối hợp theo quy chế bao gồm:
- Phối hợp tham mưu xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển, hải đảo: Hai cơ quan chủ động nghiên cứu, rà soát các văn bản, quy định của pháp luật có liên quan đã ban hành nhưng qua thực tiễn công tác quản lý nhà nước và phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển, hải đảo thấy không còn phù hợp hoặc còn thiếu để tham mưu cho các cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế; Phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường biển, hải đỏa và công khai thông tin: Trước khi công bố các số liệu có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về môi trường biển, hải đảo, hai cơ quan cùng trao đổi, thống nhất quan điểm trên cơ sở rà soát, đánh giá độ tin cậy của số liệu, bảo đảm thông tin được công bố phải chính xác, trung thực, phản ánh đúng tình hình và có tác dụng định hướng dư luận.
- Tiếp nhận, xử lý thông tin tố giác tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển, hải đảo: Đối với vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của hai cơ quan thì cơ quan tiếp nhận thông tin trước có trách nhiệm thụ lý hồ sơ và xử lý vụ việc theo thẩm quyền, cơ quan còn lại phối hợp khi có yêu cầu. Kết quả xử lý phải thông báo lại cho cơ quan phối hợp biết; Phối hợp kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường biển, hải đảo: Hàng năm, hai cơ quan tổ chức họp bàn phối hợp xây dựng kế hoahcj (hoặc lồng ghép hoạt động phối hợp vào kế hoạch năm của mỗi bên) kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường biển, hải đảo tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan.
- Tổ chức tập huấn và bồi dưỡng nghiệp vụ: Hai cơ quan tăng cường phối hợp tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ thuộc ngành về công tác bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Cử cán bộ tham dự hội nghị tập huấn, cử báo cáo viêc pháp luật, cấp phát tài liệu tuyên truyền có liên quan đến nghiệp vụ của hai bên khi có yêu cầu.
Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quy chế phối hợp số 1199/QCPH-TCBHĐVN-CSMT ngày 17/8/2011.
Xem chi tiết Quy chế số 01/QCPH-TCBHĐVN-CSMT ngày 12/12/2019 tại đây.pdf
Đình Tường- CCBHĐ