CenIT-News Category Menu

Hội thảo về Quy hoạch không gian biển quốc gia

08/12/2021 16:58      Lượt xem: 66   
Đọc tin

Ngày 03/12/2021, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tổ chức Hội thảo về Quy hoạch không gian biển quốc gia. Hội thảo được tổ chức theo 02 hình thức là trực tiếp tại điểm cầu Hà Nội và trực tuyến trên nền tảng Zoom. Tham dự Hội thảo có ông Nguyễn Quế Lâm – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và các đại biểu đại diện cho các bộ, ban, ngành trung ương; đại diện các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển; đại diện các chuyên gia, nhà khoa học.

Ông Nguyễn Quế Lâm – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam phát biểu tại Hội thảo (Ảnh – Đình Tường)

Tại Hội thảo, các đại biểu đã nghe trình bày các nội dung gồm: Kinh nghiệm và thực tiễn phân vùng không gian biển trên thế giới; Mục tiêu, quan điểm và định hướng bố trí sử dụng không gian biển cho các hoạt động trong vùng đất ven biển, các đảo, quần đảo, vùng biển và vùng trời.

Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Hà – Viện Chiến lược Phát triển trình bày báo cáo tham luận tại Hội thảo (Ảnh – Đình Tường)

Theo báo cáo “Mục tiêu, quan điểm và định hướng bố trí sử dụng không gian biển cho các hoạt động trong vùng đất ven biển, các đảo, quần đảo, vùng biển và vùng trời” do Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Hà – Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình bày tại Hội thảo cho biết:

- Quan điểm của việc bố trí sử dụng không gian biển: Bám sát và thể hiện được tư tưởng của Đảng, Nhà nước về quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển cho các hoạt động trong vùng đất ven biển, các đảo, quần đảo, vùng biển và vùng trời của Việt Nam. Phát triển các ngành, lĩnh vực biển phải bảo đảm sự hài hòa, gắn kết và bổ trợ lẫn nhau và cùng với các ngành, lĩnh vực trên đất liền, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có tính hệ thống, kết nối chặt chẽ trong phát triển quốc gia; Phải dựa trên cách tiếp cận dài hạn, bền vững và đồng bộ trong quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển; bảo đảm hài hòa giữa các hệ sinh thái, kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, gắn với quốc phòng – an ninh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Coi môi trường, đa dạng sinh học là nền tảng bền vững cho phát triển kinh tế biển và các hoạt động liên quan; Phát triển các ngành, lĩnh vực biển phải có trọng tâm, dựa trên những lợi thế so sánh của từng ngành, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia. Phát huy cao nhất các nguồn lực trong nước, nhất là ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản, đào tạo nguồn nhân lực về biển. Lấy khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nhân tố đột phá cho quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển; Phải bảo đảm nguyên tắc phòng ngừa trong quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển, nhằm hạn chế những rủi ro, thiệt hại có thể xảy đến do những tai nạn hoặc thảm họa từ biển hoặc từ con người gây ra; Bảo đảm nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của các bên liên quan trong quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển; nâng cao hiệu quả hội nhập, hợp tác quốc tế và bảo đảm tuân thủ các quy định khác của pháp luật có liên quan và Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Mục tiêu tổng quát của việc bố trí sử dụng không gian biển là tạo dựng nền tảng vững chắc ở cấp quốc gia cho hoạt động quản lý, khai thác, và sử dụng không gian biển ở cấp quốc gia một cách hiệu lực, hiệu quả. Bảo tồn và sử dụng bền vững vùng ven biển, biển, đảo và các nguồn tài nguyên biển để phát triển bền vững quốc gia. Hình thành các ngành kinh tế biển vững mạnh, tạo thêm nhiều sinh kế cho người dân. Bảo vệ và bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa, bảo đảm quốc phòng an ninh vững chắc cho Việt Nam, hướng tới một quốc gia mạnh về biển, giàu về biển trong khu vực và trên thế giới.

- Các mục tiêu cụ thể về môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng của việc bố trí sử dụng không gian biển gồm: Tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển được điều tra cơ bản. Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo;  Khả năng, biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển; Bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái; bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển. Năng lực dự báo cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Quản lý và bảo vệ các hệ sinh thái ven biển, biển và hải đảo; diện tích rừng ngập mặn;..

-Định hướng bố trí sử dụng không gian biển:

+ Đối với các vùng: Kế thừa cách thức phân vùng ven biển và ven biển của Nghị quyết 36- NQ/TW, theo đó bao gồm 04 vùng biển: (i) Vùng biển và ven biển Phía Bắc (từ Móng Cái – Ninh Bình); (ii) Vùng biển và ven biển Bắc Trung bộ, Duyên hải Trung bộ (từ Thanh Hóa - Bình Thuận); (iii) Vùng biển và ven biển Đông Nam bộ (Bà Rịa Vũng Tàu  TP.Hồ Chí Minh); và (iv) Vùng biển và ven biển Tây Nam bộ (Tiền Giang - Cà Mau - Hà Tiên). Việc phân vùng này nhằm bảo đảm tính thống nhất trong công tác quy hoạch vùng, giữa đất liền và vùng biển. Trong từng Vùng, sẽ phân vùng sử dụng vùng đất ven biển, các đảo, quần đảo, vùng biển, vùng trời thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam (theo Điều 21, Nghị định 37/2019/NĐ-CP ngày 07/5/2019):  Xác định các khu vực cần bảo vệ đặc biệt cho mục đích quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình trên biển;  Xác định các vùng dễ bị tổn thương thuộc phạm vi không gian biển và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ;  Phân vùng sử dụng không gian biển và phân loại các vùng khai thác, sử dụng tài nguyên thuộc phạm vi không gian biển; Phân vùng sử dụng vùng đất ven biển, các đảo và quần đảo.

- Đối với các ngành:Kế thừa cách thức phân ngành, lĩnh vực biển tại Nghị quyết 36/NQ-TW, Nghị quyết 09/NQ-TW và Luật Biển Việt Nam, bao gồm: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển (bao gồm các Khu kinh tế ven biển); (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Đối với từng ngành, sẽ xác định vùng/khu vực ưu tiên phát triển.

Các đại biểu tham dự Hội thảo trực tuyến trên nền tảng Zoom (Ảnh: Đình Tường)

Đại sứ Nguyễn Hồng Thao tham gia thảo luận tại Hội thảo (Ảnh: Đình Tường)

Sau khi nghe các báo cáo viên trình bày tại Hội thảo, các đại biểu đã tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến để hoàn thiện các báo cáo.

Đình Tường-CCBHĐ

 
Đầu trang
 
Trở về
 
In bài viết
Bài viết liên quan
Hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Đề án kiện toàn và nâng cao năng lực hệ thống giám sát, đánh giá rủi ro khắc phục và giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu trên biển”
Hội thảo trực tuyến về nỗ lực trong liên kết công – tư nhằm hướng tới sự chuyển dịch sang nền kinh tế tuần hoàn bao gồm các giải pháp đối với rác thải nhựa đại dương
Hội thảo trực tuyến “Kinh nghiệm trong Quản lý rác thải hướng đến nền kinh tế tuần hoàn”
Lễ phát động trồng cây rừng ngập mặn ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu
Diễn đàn "Nhà Quản lý - Nhà báo - Doanh nghiệp với Tài nguyên và Môi trường" lần thứ V - năm 2021
Đổi mới và tăng cường tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Hội thảo định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển công nghệ cao, bền vững
Hội thảo tham vấn Dự thảo Hướng dẫn Lập báo cáo đánh giá hiện trạng phát triển bền vững vùng bờ của Việt Nam
Kiểm tra việc thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến Luật Cảnh sát biển Việt Nam giai đoạn 2019-2023” trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Phê duyệt Quy hoạch kết cấu hạ tầng đường thủy nội địa thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
DisplayBannersDoc
Tra cứu
Phản ánh kiến nghị
Thống kê hồ sơ 1 cửa
Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính