CenIT-News Category Menu

Hội thảo “Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành liên quan đến bảo vệ môi trường biển do rác thải nhựa, định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật”

24/02/2022 08:51      Lượt xem: 57   
Đọc tin

Ngày 18/02/2022, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tổ chức Hội thảo “Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành liên quan đến bảo vệ môi trường biển do rác thải nhựa, định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật” theo 02 hình thức là trực tiếp tại điểm cầu Hà Nội và trực tuyến. Hội thảo nằm trong khuôn khổ thực hiện gói công việc “Nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành liên quan tới việc bảo vệ môi trường biển do rác thải nhựa, đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện” thuộc Dự án “Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương tại Việt Nam” do tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tại Việt nam (WWF-Việt Nam) hỗ trợ thực hiện. Tham dự Hội thảo gồm các đại biểu đại diện cho các cơ quan trung ương; đại diện các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường; đại diện 28 Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển.

Tại Hội thảo, các đại biểu đã được nghe 02 báo cáo tham luận gồm: Thỏa thuận quốc tế và hợp tác khu vực biển Đồng về bảo vệ môi trường biển do rác thải nhựa, đánh giá sơ bộ việc thực hiện ở Việt Nam; Hiện trạng quy định hiện hành ở Việt Nam về bảo vệ môi trường biển do rác thải nhựa. Đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.

Các đại biểu tham dự Hội thảo trực tuyến. (Ảnh: Đình Tường-CCBHĐ)

 Trình bày báo cáo “Hiện trạng quy định hiện hành ở Việt Nam về bảo vệ môi trường biển do rác thải nhựa. Đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện” tại Hội thảo, Ths. Phạm Thị Gấm – Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách và Pháp chế - Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết một số Định hướng đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (TNMTBHĐ) năm 2015, cụ thể như sau:

- Định hướng chung: Luật TNMTBHĐ năm 2015 một mặt quy định các công cụ quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển (BVMTB), còn quy định một số nội dung cụ thể về BVMTB. Tuy nhiên, các quy định trong Luật TNMTBHĐ từ quy định chung về giải thích từ ngữ, chính sách, hành vi bị cấm cho đến các quy định về BVMTB chưa có quy định cụ thể về BVMTB do rác thải nhựa. Luật TNMTBHĐ đã có quy định riêng về BVMTB do các nguồn ô nhiễm từ đất liền, hoạt động trên biển, xuyên biên giới, nhưng chủ yếu là quy định mang tính nguyên tắc về BVMTB, không có quy định cụ thể về rác thải nhựa. Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2020 quy định chung để BVMT, đồng thời quy định cụ thể về các công cụ để giảm phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu phát sinh rác thải nhựa, cũng như quy định về quản lý CTR phát sinh từ các hoạt động trên đất liền như hộ gia đình, sản xuất kinh doanh, dịch vụ, y tế, nông nghiệp,.... Các hoạt động phát sinh rác thải nhựa trên biển như khai thác thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản,… cũng được quy định trong Luật BVMT năm 2020 và văn bản hướng dẫn thi hành, tuy nhiên, quy định này chưa cụ thể, chủ yếu mang tính nguyên tắc trừ quy định về quản lý rác thải nhựa phát sinh từ hoạt động hàng hải. Các Luật khác có liên quan như Luật Biển Việt Nam, Luật Thuỷ sản, Luật Dầu khí, Luật Khoáng sản,…cũng chỉ quy định mang tính nguyên tắc và dẫn chiếu thực hiện theo quy định của pháp luật về BVMT. Rác thải nhựa đại dương đang được xác định là vấn đề cấp bách đã được định hướng cần phải giải quyết trong thời gian tới. Do đó, Luật TNMTBHĐ cần sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể về BVMTB do rác thải nhựa. Việc sửa đổi này phù hợp với định hướng của Đảng và Nhà nước để BVMTB, đồng thời phù hợp với yêu cầu của các thoả thuận quốc tế và xu hướng chung của cộng đồng quốc tế trong việc BVMTB và đại dương để phát triển bền vững.

- Định hướng nội dung sửa đổi, bổ sung trong Chương 1 về quy định chung: Tại Điều 3 về giải thích từ ngữ, cần xem xét bổ sung giải thích về “rác thải nhựa đại
dương” hoặc “rác thải nhựa biển” hoặc “chất thải nhựa biển” để làm rõ về nội hàm của rác
thải nhựa đang gây ô nhiễm môi trường biển. Hiện nay, liên quan đến cụm từ rác thải nhựa
đang được sử dụng bằng các thuật ngữ khác nhau ở các văn bản khác nhau và chưa được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2020 tại Điều 73 đã sử dụng hai cụm từ “chất thải nhựa” và “rác thải nhựa đại dương”. Một số văn bản quản lý sử dụng hai cụm từ này, ngoài ra còn sử dụng thêm cụm từ “rác thải nhựa”. Cụm từ “chất thải nhựa” được sử dụng trong Quyết định số 1316/QĐ- TTg ngày 22 tháng 7 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án tăng cường công tác quản lý chất thải nhựa ở Việt Nam sử dụng phổ biến; Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 20 tháng 8 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa. Cụm từ “rác thải nhựa đại dương” được sử dụng trong các văn bản quản lý như Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030; Quyết định số 1407/QĐ-TTg ngày 16/8/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Việt Nam chủ động chuẩn bị và tham gia xây dựng Thỏa thuận toàn cầu về ô nhiễm nhựa đại dương. Cụm từ “rác thải nhựa” được sử dụng trong Quyết định số 175/QĐ-TTg ngày 05/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án: “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về phòng, chống rác thải nhựa giai đoạn 2021 – 2025”. Đồng thời, trong quy định để giải thích thuật ngữ “rác thải nhựa đại dương”, việc định nghĩa để phân loại rác thải nhựa cũng cần phải quy định cùng với thuật ngữ này để thuận lợi cho công tác quan trắc, giám sát, điều tra, nghiên cứu và phương án thu gom, xử lý rác thải nhựa trong môi trường biển cho phù hợp. Bên cạnh đó, vấn đề vi nhựa cũng cần được xem xét để bổ sung giải thích cụm từ “vi nhựa” để làm cơ sở kiểm soát chất lượng môi trường môi trường do vấn đề vi nhựa gây ra. Hiện nay, trong Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật BVMT năm 2020 tại Điều 3 khoản 13 có giải thích thuật ngữ “vi nhựa” chỉ giải thích “vi nhựa trong
sản phẩm, hàng hoá”, chưa có giải thích “vi nhựa” trong môi trường biển, cũng như giải thích làm rõ về kích cỡ, mức độ và khả năng gây ô nhiễm môi trường biển. Bên cạnh đó, tại Điều 3 khoản 14 và khoản 15 có giải thích khái niệm “sản phẩm nhựa sử dụng một lần” và “bao bì nhựa khó phân hủy sinh học”, chưa có khái niệm về sản phẩm nhựa nói chung và chất thải nhựa đại dương, chất thải nhựa biển hoặc rác thải nhựa đại dương, rác thải nhựa biển. Việc bổ sung, thống nhất làm rõ về thuật ngữ “rác thải nhựa đại dương” “vi nhựa” trong môi trường biển để thống nhất cách hiểu và là cơ sở để làm rõ về nội hàm trong công tác BVMTB do rác thải nhựa; Tại Điều 4 về chính sách của Nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo: Các chính sách của Nhà nước tại Điều 4 Luật TNMTBHĐ là các chính sách chung nhằm thúc đẩy việc điều tra cơ bản, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, đầu tư nguồn lực cho công tác quan trắc, giám sát về môi trường biển. Đây là các chính sách chung về vấn đề BVMTB, tuy nhiên, để đảm bảo vấn đề ô nhiễm biển do rác thải nhựa được quy định cụ thể, tại Khoản 3 Điều này cần bổ sung nội dung về “tăng cường kiểm soát ô nhiễm rác thải nhựa biển”. Quy định này được bổ sung sẽ là cơ sở để quy định các nội dung cụ thể về BVMTB do rác thải nhựa tại các điều cụ thể tại các chương tiếp theo của Luật;
Tại Điều 8 về những hành vi bị nghiêm cấm, đề nghị xem xét bổ sung quy định nghiêm cấm việc thải bỏ rác thải nhựa vào vùng ven biển và môi trường biển. Quy định này khẳng định chủ trương của Nhà nước trong việc BVMTB do rác thải nhựa, không cho phép thải bỏ rác thải nhựa dưới mọi hình thức xuống biển trừ một số trường hợp bất khả kháng. Bổ sung quy định này là phù hợp và thể hiện quan điểm của Việt Nam trong các tuyên bố, cam kết về vấn đề này.

- Định hướng nội dung sửa đổi, bổ sung trong các công cụ quản lý tổng hợp tài
nguyên, bảo vệ môi trường biển:
Chương II về chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, BVMT biển và hải đảo và Mục 2 Chương IV về quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ cần xem xét bổ sung nội dung về rác thải nhựa biển. Tại Mục 3 Chương IV về Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ, Điều 34 về các khu vực cần lập chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ, cần xem xét bổ sung khu vực có ô nhiễm
biển nghiêm trọng do các hoạt động khác nhau gây ra ô nhiễm biển do rác thải nhựa. nhiễm
biển do rác thải nhựa tại một khu vực biển có thể do nhiều hoạt động khác nhau phát sinh rác thải nhựa, ví dụ như du lịch biển, nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản,…. Do vậy, việc lập Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ để có sự điều phối của các cơ quan khác nhau, các bên có liên quan có thể thuận lợi trong việc tìm ra các nguyên nhân và các giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề rác thải nhựa trên một khu vực biển nhất định.

- Định hướng nội dung sửa đổi, bổ sung trong Mục 1 Chương VI về kiểm soát ô
nhiễm môi trường biển và hải đảo:
Tại Điều 43 về nội dung kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo cần xem xét bổ sung nội dung kiểm soát ô nhiễm biển do rác thải nhựa. Bổ sung nội dung quy định này nhằm cung cấp cơ sở để quy định các quy định cụ thể các điều tiếp theo để kiểm soát ô nhiễm rác thải nhựa từ các nguồn phát sinh khác nhau. Trên cơ sở nội dung rà soát, đánh giá tại Báo cáo số 1, hầu hết các hoạt động phát sinh rác thải nhựa trên biển chưa được quy định cụ thể trừ hoạt động hàng hải. Do đó, các quy định bổ sung cần tập trung quy định để kiểm soát nguồn phát sinh rác thải nhựa có nguồn gốc từ đất liền; hoạt động nuôi trồng thuỷ sản; hoạt động khai thác thuỷ sản; hoạt động khai thác từ đáy biển và hoạt động xuyên biên giới. Riêng rác thải nhựa phát sinh từ hoạt động hàng hải nên quy định mang tính nguyên tắc. Việc bổ sung các quy định này vào Luật TNMTBHĐ có thể thiết kế theo ba phương án:

+ Phương án 1: tại các điều 45 về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động trên biển; Điều 46 về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ đất liền; Điều 47 về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển xuyên biên giới, bổ sung thêm khoản quy định về kiểm soát ô nhiễm biển do rác thải nhựa.

+ Phương án 2: quy định riêng một điều quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do rác thải nhựa phát sinh từ các nguồn.

+ Phương án 3: Để thể hiện rõ, cụ thể, bổ sung quy định mang tính nguyên tắc nhấn mạnh đến kiểm soát phát sinh chất thải nhựa tại các Điều 45, 46 và Điều 47; đồng thời bổ sung một điều riêng quy định cụ thể về vấn đề này (kiểm soát việc phát sinh, yêu cầu về thu gom, xử lý, trách nhiệm của các bên liên quan...). Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do rác thải nhựa phát sinh từ hoạt động khai thác thuỷ sản Tàu thuyền hoạt động khai thác thuỷ sản, đặc biệt việc khai thác ở vùng biển xa bờ thường dài ngày trên biển. Rác thải nhựa từ hoạt động khai thác thuỷ sản phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của các ngư dân và ngư cụ bị hỏng. Với lượng lớn tàu thuyền khai thác thuỷ sản và ngư dân, rác thải nhựa phát sinh từ hoạt động này cần được kiểm soát,….

 
Đầu trang
 
Trở về
 
In bài viết
DisplayBannersDoc
Tra cứu
Phản ánh kiến nghị
Thống kê hồ sơ 1 cửa
Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính