Database 'dbo' does not exist. Make sure that the name is entered correctly. Hội thảo trực tuyến tham vấn Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
CenIT-News Category Menu

Hội thảo trực tuyến tham vấn Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

20/10/2021 17:05      Lượt xem: 115   
Đọc tin

Ngày 15/10/2021, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã tổ chức Hội thảo trực tuyến tham vấn Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tham dự Hội thảo gồm các đại biểu của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và các đại biểu đại diện cho 28 Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển.

Các đại biểu tham dự Hội thảo tại điểm cầu Tổng cục Biển và Hải đảo (Ảnh: Đình Tường-CCBHĐ)

Tại Hội thảo, đơn vị tư vấn đã trình bày tóm tắt về dự thảo Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược) và Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) của Chiến lược để các đại biểu thảo luận, tham gia góp ý. Theo đó, một số nội dung chủ yếu của dự thảo Chiến lược như sau:

- Mục tiêu tổng quát: Tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng bền vững, công bằng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế; ô nhiễm môi trường biển được ngăn ngừa, kiểm soát, giảm thiểu đáng kể; đa dạng sinh học biển, ven biển và hải đảo được bảo vệ, duy trì và phục hồi; các giá trị di sản văn hóa biển được bảo tồn và phát huy; tác động của thiên tai được hạn chế thấp nhất có thể, biến đổi khí hậu và nước biển dâng được ứng phó hiệu quả.

- Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng bền vững, công bằng phục vụ hiệu quả cho phát triển các ngành kinh tế biển ưu tiên và khu vực ven biển, nâng cao đời sống và sinh kế cộng đồng; Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương. Ở các tỉnh, thành phố ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô 55 thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường. Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000; Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bao gồm cả thông qua việc ứng dụng công nghệ vũ trụ và trí tuệ nhân tạo, đạt trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực. Có biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển; Điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học biển và hải đảo đáp ứng cơ bản được yêu cầu của hoạt động khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển và hải đảo, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển, phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng góp phần phát triển bền vững kinh tế biển. Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng. Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỉ lệ bản đồ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm. Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật.

- Tầm nhìn đến năm 2045: Tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng bền vững, môi trường biển và các hải đảo trong lành phục vụ phát triển nền kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn, cac-bon thấp, xã hội hài hoà với thiên nhiên, góp phần quan trọng để đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương.

- Một số định hướng, nhiệm vụ cụ thể của Chiến lược gồm:

+ Khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo: Phân vùng sử dụng không gian biển phải bảo đảm từng bước khắc phục những mâu thuẫn, chồng chéo về lợi ích giữa các ngành, các cấp, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và sinh kế của người dân, bảo đảm môi trường biển, các hệ sinh thái biển được bảo vệ hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; Ưu tiên nguồn lực để đẩy mạnh các hoạt động, mô hình khai thác, sử dụng tài nguyên hiệu quả, thân thiện môi trường, các dự án đáp ứng tiêu chí kinh tế tuần hoàn, phù hợp với trữ lượng tài nguyên và sức chứa của hệ hệ sinh thái; hạn chế các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên bằng các công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp, gây tổn hại đến tài nguyên, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học.

+ Bảo vệ môi trường biển và hải đảo: Thực hiện định kỳ công tác điều tra, thống kê, phân loại, quan trắc và đánh giá các loại hình ô nhiễm, tình trạng ô nhiễm, nguồn gây ô nhiễm môi trường biển; Đẩy mạnh điều tra, đánh giá sức chịu tải môi trường, xác định cấp độ rủi ro ô nhiễm môi trường biển cho phát triển kinh tế biển; phân vùng rủi ro và lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển; công bố các khu vực biển, hải đảo vượt sức chịu tải môi trường. Đến năm 2025, hoàn thành lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm và đánh giá sức chịu tải môi trường tại các vùng rủi ro ô nhiễm cao ở vùng biển ven bờ; Tăng cường năng lực và chủ động kiểm soát, giám sát, xử lý các vấn đề môi trường biển trong khu vực và toàn cầu bao gồm ô nhiễm xuyên biên giới, axit hóa đại dương và các vấn đề liên quan khác.

+ Bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn lợi biển và hải đảo: Bảo vệ, duy trì hệ thống các khu bảo tồn hiện có; điều tra, khảo sát, đánh giá đề xuất thành lập các khu bảo tồn mới trên các vùng biển, ven biển và hải đảo; tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học ngoài khu bảo tồn; phục hồi các hệ sinh thái biển và ven biển bị suy thoái. Đến năm 2030, Tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia, 80% các khu vực biển có đa dạng sinh học cao, dịch vụ hệ sinh thái quan 58 trọng được áp dụng chính sách bảo tồn hiệu quả, diện tích rừng ngập mặn ven biển được phục hồi tối thiểu bằng mức năm 2000; Đẩy mạnh điều tra, đánh giá và xác định mức độ dễ bị tổn thương, tính nguy cấp của các loài sinh vật biển đặc hữu, có giá trị khoa học và kinh tế để đưa ra các phương án, giải pháp bảo vệ, bảo tồn và phục hồi;Thiết lập, mở rộng và tăng cường năng lực quản lý các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của các loài thủy sản. Đến năm 2030, 100% các khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản được thiết lập và hoạt động hiệu quả.

+ Ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng: Tăng cường năng lực giám sát biến đổi khí hậu, dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai trên biển và vùng ven biển để chủ động ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; định kỳ cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Đến năm 2030, hệ thống dự báo, cảnh báo thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu được hiện đại hóa và được kết nối thông suốt; Nâng cao khả năng chống chịu và phục hồi của hệ thống tự nhiên và xã hội vùng biển và ven biển trước các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu; phát triển mô hình cộng đồng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; giám sát tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành kinh tế biển và đời sống, sinh kế cộng đồng trên vùng biển và ven biển,….

Căn cứ vào ý kiến của các cơ quan, đơn vị trong buổi hội thảo, Tổng cục Biển và Hải đảo sẽ tiếp thu và chỉnh sửa, hoàn thiện dự thảo Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để trình cơ quan có thẩm quyền ban hành.

Đình Tường-CCBHĐ

 
Đầu trang
 
Trở về
 
In bài viết
Bài viết liên quan
Hội thảo Phát triển hệ sinh thái đô thị biển đa chiều ở Việt Nam
Một số giải pháp cấp bách nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý khu bảo tồn biển Việt Nam
Đề án Bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu và thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030
Quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển thuộc thẩm quyền giao của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường
Hội thảo “Phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại của rác thải nhựa, túi ni lông khó phân hủy”
Báo cáo về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo năm 2020
Kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hợp tác quốc tế về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030
Tọa đàm trực tuyến về “Triển khai hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu theo Quyết định 12/2021/QĐ-TTg – Thuận lợi và vướng mắc”
Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Báo cáo kết quả 3 năm (2019 – 2021) sơ kết thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến Luật Cảnh sát biển Việt Nam giai đoạn 2019 – 2023”
DisplayBannersDoc
Tra cứu
Phản ánh kiến nghị
Thống kê hồ sơ 1 cửa
Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính